Thành phần Diệp hạ châu

By | April 4, 2015

Diệp hạ châu (cây chó đẻ thân xanh) là loài thảo dược mọc hoang trên khắp cả nước ta

*Mô tả:

Cây cao 10 – 40 cm, ít phân cành, có màu lục. Lá mọc so le nhau, xếp hai dãy đều trên cành trông như một lá kép lông chim, gốc tròn, đầu tù hơi nhọn, hai mặt nhẵn, mặt trên màu lục sẫm, mặt dưới hơi mốc.

Trên cây có hoa, mọc ở kẽ lá, không có cánh hoa, màu lục nhạt.Quả nang, hình cầu, nhẵn.

Mùa hoa: tháng 4 – 6.

diep-ha-chau

Sử dụng:

Thu hái toàn cây, dùng tươi hoặc phơi, sấy khô dùng trong thời gian dài.

Dược tính:

Diệp hạ châu đắng có vị hơi đắng, tính mát, có tác dụng tiêu độc, thanh can,

sát trùng,  thông huyết, điều kinh, lợi tiểu, …

 

Thành phần hoá học:

Diệp hạ châu đắng chứa chất đắng không có quinin hoặc alcaloid. Lá khô chứa các chất đắng hypophylathin (0,05%) phylanthin (0,35%). Trong cây còn có niranthin, nirtetralin và phylteralin.

Gần đây, các nhà nghiên cứu còn phát hiện trong cây có lignan, flavonoid, alcaloid kiểu securinin như niruroidin, isobubialin, epibubialin một loại elagitnin, cùng với 1 – O – galoyl – 2,4 – dehydrohescahydroxydyphenoyl – glucopyranose elaeocarpusin, quercetin, quercitrin, isoquercitrin astragalin, rutin, các acid hữu cơ như ascorbic geraniinic 13 acid amariinic và repandusinic A.

Tác dụng dược lý:

– Thuốc có tác dụng làm giảm hàm lượng colagen trong máu và làm giảm mức độ xơ gan ở cả người và động vật.

– Thuốc có tác dụng lợi tiểu, chống oxy hoá, có độ an toàn cao.

–  Diệp hạ châu đắng được dùng trị sốt rét, sỏi thận, sỏi bàng quang, các rối loạn về tiết niệu nói chung và còn có tác dụng gây sẩy thai.

– Trong diệp hạ châu đắng có tác dụng bảo vệ tế bào gan chống lại tác dụng độc hại tế bào gây bởi carbon tetraclorid và galactosamin.

– Uống nước sắc lá diệp hạ châu đắng và tắm với nước ngâm lá để trị sốt.

Bài thuốc dân gian:

Diệp hạ châu đắng được dùng làm thuốc trị viêm gan, vàng da, sốt, đau mắt, rắn cắn:  Ngày dùng 20 – 40g cây tươi, giã lấy nước uống, hoặc sao khô sắc uống hoặc 8 – 16g cây khô cũng sắc uống. Dùng ngoài, cả cây giã đắp hoặc giã lấy nước cốt bôi trị mụn nhọt, lở ngứa.

– Nước sắc chồi non trị kiết lỵ, rễ tươi trị vàng da, lá là thuốc lợi tiêu hoá, dịch ép lá dùng đắp trị lở loét.

– Người ta còn dùng lá và rễ khô tán nhỏ làm thành bột nhão đắp các vết sưng tấy và loét.

– Nước sắc toàn cây là thuốc bổ dạ dày, giã rượu. Lá giã nát đắp chữa mụn nhọt, lở loét và bệnh ngoài da.

 

 

 

Loading Facebook Comments ...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *